Tóm tắt: Thở bằng miệng, một rối loạn hô hấp phổ biến, trong đó các cá nhân chủ yếu thở bằng miệng thay vì mũi, có vẻ không đáng kể nhưng lại gây ra những rủi ro sức khỏe lâu dài đáng kể. Bài báo này xem xét cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng và các hậu quả tiềm ẩn của việc thở bằng miệng mãn tính, đồng thời đề xuất các chiến lược can thiệp toàn diện bao gồm điều chỉnh hành vi, hỗ trợ vật lý, tập luyện cơ vùng miệng, điều trị chỉnh nha, quản lý bệnh mũi và chỉnh sửa tư thế lưỡi.
Trong khi thở bằng mũi đóng vai trò là hệ thống lọc tự nhiên của cơ thể, làm ấm và làm ẩm không khí hít vào, nhiều người phát triển thói quen thở bằng miệng do nghẹt mũi, phì đại tuyến adenoid hoặc thói quen xấu. Nghiên cứu mới nổi cho thấy thở bằng miệng mãn tính có liên quan đến các bệnh răng miệng, nhiễm trùng đường hô hấp, biến dạng khuôn mặt, suy giảm nhận thức và ngưng thở khi ngủ. Việc xác định và can thiệp sớm là rất quan trọng để giảm thiểu các tác động sức khỏe toàn thân này.
Các nguyên nhân phổ biến bao gồm:
Ngậm mút tay hoặc dùng núm vú giả kéo dài có thể làm suy yếu cơ vòng miệng, trong khi thở bằng miệng mãn tính có thể dẫn đến suy giảm chức năng mũi.
Sự phối hợp suy giảm của các cơ hô hấp và cơ vùng miệng có thể làm tổn hại tính toàn vẹn của niêm phong môi và hiệu quả hô hấp.
Các đặc điểm điển hình của "khuôn mặt adenoid":
Giảm bảo vệ của nước bọt làm tăng nguy cơ sâu răng và bệnh nha chu gấp 3-5 lần so với người thở bằng mũi.
Việc bỏ qua hệ thống lọc của mũi làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và làm trầm trọng thêm các triệu chứng hen suyễn.
Các trường hợp mãn tính cho thấy tỷ lệ sai khớp cắn cao hơn 68% cần can thiệp chỉnh nha.
Thiếu oxy mãn tính có tương quan với sự suy giảm có thể đo lường được về hiệu suất học tập và trí nhớ làm việc.
Người thở bằng miệng có khả năng mắc chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn cao gấp 4,2 lần.
Các chế độ tập luyện hàng ngày bao gồm:
Các kỹ thuật để thiết lập vị trí lưỡi đúng trên vòm miệng cứng.
Quản lý toàn diện đòi hỏi đánh giá đa ngành giải quyết cả các thành phần giải phẫu và hành vi. Can thiệp sớm trong các giai đoạn phát triển của trẻ mang lại kết quả tối ưu để ngăn ngừa các di chứng lâu dài.